|
Trong các cuộc kháng
chiến vệ quốc của dân tộc, Quảng Nam là một trong những cái
nôi của phong trào cách mạng và là vùng chiến trường vô cùng
ác liệt. Những địa danh: Bồ Bồ, Cấm Dơi, Vĩnh Trinh, Chợ
Được, Chu Lai, Ḥn Tàu, địa đạo Kỳ Anh, đường ṃn Hồ Chí
Minh ... đă đi vào lịch sử dân tộc, ngày nay trở thành điểm
dừng chân của bao du khách.
Địa Đạo Kỳ Anh
Thuộc xă Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ cách trung
tâm thành phố khoảng 7 km về phía Đông Bắc, có vị trí quan
trọng trong chiến lược quân sự.
Địa đạo dài 20km, dưới lớp đất cứng và chắc ở độ sâu từ
1-1,5m, được thực hiện trong hai năm 1965-1967 dạng bàn cờ
quanh co khúc khuỷu. Trong hầm địa đạo có hầm cứu thương,
kho chứa lương thực, hầm cảnh giới, hầm tác chiếm, lỗ thông
hơi và hầm chỉ huy. Đây là căn cứ địa vững chắc và quan
trọng cho cả vùng Đông Tam Kỳ. Từ địa đạo này lực lưỡng vũ
trang và nhân dân địa phương dă gây cho địch nhiều tổn thất
đáng kể.
Ngày nay, do tàn phá của chiến tranh và thiên tai, địa đạo
bị hưng hỏng nhiều, một số đoạn địa đạo c̣n lại nằm ở thôn
Vĩnh B́nh và Thạch Tân.
Khu di tích Nước Oa
Thuộc xă Trà Tân,
huyện Trà My, nằm trong vùng núi cách thị trấn Trà My
8km về phía Tây Nam, khu di tích gồm có: cơ quan Khu Ủy, nhà
ở và nhà làm việc của đồng chí Chu Huy Mân, đồng chí Vơ Thứ;
hầm trú ẩn giao thông hào, ao cá, vườn cam, nhà bếp và khu
bảo vệ … Đây có thể xem là một trong những căn cứ địa đầu
tiên của Khu Ủy và bộ tư lệnh quân khu 5.
Vào dịp kỷ niệm Quốc Khánh 2-9 năm 1996 khu di tích Nước Oa
được tôn tạo lại một số hạng mục: tường rào và nhà làm việc,
nhà trưng bày hiện vật.
Khu di tích Phước Trà
Là khu di tích cách mạng Khu Ủy Khu 5 (1973-1975) gồm: hội trường,
hệ thống hầm trú, hầm ở và làm việc của đồng chí bí thư Khu
Ủy. Tại đây Khu Ủy đă đề ra kế hoạch cho cuộc tổng tiến công
và nổi dậy Mùa Xuân 1975 theo tinh thần của nghị quyết ban
chấp hành TW Đảng tháng 5 năm 1975.
Khu di tích Phước Trà nằm cách thị trấn Tân An, Hiệp Đức
15km về phía Tây, cách đường 612 khoảng 4km về phía
Nam.
Rừng Dừa 7 Mẫu
Nằm giữa thôn hai và thôn ba xă Cẩm Thanh, Hội An.
Với địa thế nằm ở vùng ven, gần sông nước, không gian rộng
thuận lợi cho việc lập khu căn cứ. Nhằm tiêu diệt khu căn cứ
địa này, Mỹ đă cho quân tấn công kể cả dùng hóa chất hóa học
làm trụi lá rừng dừa nhưng căn cứ vẫn tồn tại và phát huy.
Ngày nay Rừng Dừa 7 Mẫu trở lại màu xanh tươi tốt và là một
trong những điểm du lịch sinih thái khá lư tưởng.
Giếng Nhà Nh́ (c̣n gọi là Ao 7 dũng sĩ Điện Ngọc)
Thuộc thôn 5, xă Điện Ngọc, huyện Điện Bàn, cách
thành phố Hội
An 15km về phía bắc theo đường Hội An – Đà Nẵng.
Đây là khu di tích ngoài trời gồm: một giếng cạn, xung quanh
có bờ mương và hàng dương chạy dài bao bọc, gần bên là một
tượng đài được xây dựng uy nghi tượng trưng cho khí thế cách
mạng. Nơi đây đă diễn ra trận đánh không cân sức của 7 chiến
sĩ đặc công với 2 đại đội biệt kích và 3 trung đội của Mỹ
ngụy. Với ḷng dũng căm và mưu trí, các anh đă chiến đấu đến
cùng, lập chiến công vang dội đến chiến trường miền Nam,
được Đảng và Nhà nước phong tặng: Dũng sĩ Điện Ngọc. Khu di
tích được công nhận là khu di tích quốc gia
Tượng đài chiến Thắng Núi Thành
Nằm trên một đồi
cao 43m trong một cụm đồi ở xă Tam Nghĩa,
huyện Núi Thành, tiếp
giáp với đường sắt Bắc Nam và quốc lộ 1A, cách sân bay Chu
Lai 4km có vị trí chiến lược quan trọng.
Nơi đây diễn ra trận đấu đánh đế quốc Mỹ của quân và dân
Quảng Nam. Vào ngày 25/5/1965, tiểu đoàn 70 tỉnh động Quảng
Nam đă tấn công đánh tan đại đội Mỹ, mở đầu cho phong trào
"T́m Mỹ mà đánh" trên toàn miền Nam, được Đảng và Bác Hồ
khen tặng 8 chữ vàng "Trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ".
Tượng
đài chiến thắng Cấm Dơi
Thuộc thị trấn
Đông Phú, huyện Quế Sơn, cách thành phố Tam Kỳ 50km về phía Tây Bắc. Nơi
đây cơ thể được xem là một trong những địa bàn ác liệt nhất,
là nơi tranh chấp sống c̣n giữa ta và địch trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ. Lợi dụng địa thế hiểm trở, địch tiến hành
cho xây các lô cốt hầm chỉ huy, hệ thống quân sự gồm nhiều
đồn bót, cùng hàng chục tiểu đoàn, nhằm khống chế cả vùng
Tây Nam quận lỵ Quế Sơn.
Ngày 17-8-1932 bộ đội chủ lực và quân dân địa phương đă tiến
đánh Cấm Dơi, phá hủy toàn bộ khu căn cứ, mở rộng vùng giải
phóng góp phần cùng với quân và dân ta đánh bại chiến lược
“Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ ngụy trong ư đồ xâm lược
miền Nam Việt Nam.
Chiến
thắng Thượng Đức
Thượng Đức thuộc xă Đại Lănh,
huyện
Đại Lộc cách Đà Nẵng 40km về phía
Tây.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nơi đây đă được Mỹ
ngụy biến thành một hệ thống quân sự hầm ngầm liên hoàn bê
tông cốt thép kiên cố, được địch xem như là cánh cửa thép án
ngữ Đà Nẵng, một trong những căn cứ quân sự lớn nhất ở miền
Nam Việt Nam. Tại đây đă ghi dấu chiến công của sư đoàn 340
cùng bộ đội địa phương trong trận chiến đấu giải phóng
Thượng Đức (ngày 7-8-1974) khẳng định khả năng đánh thắng
toàn bộ quân ngụy trên khắm chiến trường, đánh tan cánh cửa
thép bảo vệ ṿng ngoài Đà Nẵng, làm bàn đạp tấn công vào sào
huyệt cuối cùng của quân ngụy.
Căn cứ Ḥn Tàu
Nằm ở cụm núi ranh giới giữa
hai huyện Quế Sơn và Duy Xuyên, nơi đây đă từng là căn cứ
địa vững chắc của phong trào chống ngoại xâm. Trong những
năm chống Mỹ vùng căn cứ Ḥn Tàu - Mặt Rạng là một trong
những nơi đóng quân của các cơ quan Khu - Tỉnh Ủy của Quảng
Nam và đặc khu Quảng Đà.
Cứ điểm NGOK-TA-VAK
Thuộc xă Phước Mỹ,
huyện
Phước Sơn ở độ cao khoảng 378m, cách thị trấn Khâm Đức
khoảng 7km về phía Tây Nam.
Tại đây quân đội Mỹ đă xây dựng cứ điểm làm 3 khu: trên đỉnh
là khu rung tâm gồm có các bộ chỉ huy và trận đại pháo được
bao bọc bởi hệ thống rào thép gai, phía Tây cứ điểm là khu
sân bay trực thăng dă chiến, phía Đông Nam là khu ở của quân
Ngụy.
Hiện nay, do tác động của thiên nhiên và thời gian nên di
tích chỉ c̣n lại khu sân bay trực thăng.
Đường Hồ
Chí Minh - Con đường huyền thoại
Trong suốt cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước, đường ṃn Hồ Chí Minh (c̣n gọi là
đường Trường Sơn) là tuyến vận chuyển vũ khí, hàng hoá,
lương thực, quân nhu... quan trọng nhất của hậu phương miền
Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam. Trong đó, đoạn đường
Trường Sơn đi qua địa phận Quảng Nam với chiều dài gần 200
km là một trong những đoạn hiểm trở nhất, cam go nhất với
nhiều trận đánh vô cùng ác liệt. Những địa danh: Prao, Bến
Giằng, Làng Rô, Khâm Đức, Ngok - Ta - Vak, Đồi E... nằm trên
lành lang tuyến đường này đă đi vào lịch sử và kư ức của mỗi
người dân đất Quảng.
Cùng với sự chuyển ḿnh đi lên của đất nước, này nay tuyến
đường ṃn Hồ Chí Minh đă được đầu tư xây dựng trở thành
tuyến giao thông huyết mạch phục vụ quá tŕnh phát triển
kinh tế - xă hội, an ninh quốc pḥng và du lịch. Tham gia
tour du lịch “khám phá con đường huyền thoại Trường Sơn” tại
Quảng Nam, du khách sẽ đến với các địa danh lịch sử quen
thuộc, các bản làng đồng bào dân tộc ít ngựi c̣n lưu giữ
những nét văn hoá độc đáo, các khu rừng nguyên sinh, các
danh thắng hữu t́nh như thác Tơ Mai, thác Grăng, cầu Thác
Nước, hang động Đồng Răm, khu bảo tồn thiên nhiên Sông
Thanh.
Di tích danh nhân
Quảng Nam là vùng đất địa linh
nhân kiệt, đă sản sinh ra nhiều nhân tài tuấn kiệt, từ các nhà
khoa bảng nổi tiếng đến các nhà cách mạng yêu nước lỗi lạc.
Tiêu biểu nhất là: Trần Quư Cáp, Hoàng Diệu, Phan Thành Tài,
Nguyễn Duy Hiệu, Trần Cao Vân, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thành,
Phan Châu Trinh, Trần Văn Dư, Lê Tấn Trung, Đỗ Đăng Tuyển, Mai
Dị, Phan Thanh, Nguyễn Văn Trỗi, Trần Thị Lư...
Lăng mộ bà Đoàn Quư Phi
Đoàn Quư Phi (1601-1661) là thân mẫu của Chúa
Hiền (Thái Tông Nguyễn Phước Tần). Bà là người có đức tính
cần cù, chăm chỉ, hiền hậu, thông minh. Để tưởng nhớ công
đức của Bà, các chúa Nguyễn đă phong tặng nhiều danh hiệu
tôn kính, đặc biệt năm Gia Long thứ V (1806) đă truy tôn bà
là Trinh Thục Từ Tĩnh Mẫu Duệ Huệ Kính Hiếu Chiêu Hoàng Hậu.
Lăng mộ Đoàn Quư Phi nằm tại làng Chiêm Sơn, xă Duy Trinh,
huyện Duy Xuyên. Đây là lăng mộ cổ xưa nhất của chúa Nguyễn
ở phía nam, được xây dựng vào khoảng thế kỷ 16, 17. Hằng năm
cứ đến ngày 24 tháng 3 âm lịch, nhân dân quanh vùng và tộc
họ thường làm lễ dâng hương để tưởng niệm Bà
Mộ tổng đốc Hoàng Diệu
Hoàng Diệu (1829- 1882) xuất thân trong một gia
đ́nh nho giáo tại làng Xuân Đài - xă Điện Quang - huyện Điện
Bàn. Ông là vị danh tướng nổi tiếng học rộng, tài cao (19
tuổi đỗ cử nhân, 24 tuổi đổ phó bảng) và là người thanh liêm,
chính trực, thương dân.
Ngày 25 tháng 4 năm 1882 thực dân Pháp tấn công thành Hà Nội,
trong một trận đấu không cân sức, ông thắt cổ tự vẫn để khỏi
rơi vào tay giặc. Lúc đó, ông đang giữ cương vị tổng đốc Hà
- Ninh. Cái chết oanh liệt của ông là một tấm gương anh hùng
trung liệt, cổ vũ cho các tầng lớp chí sĩ và nhân dân cả
nước đứng lên đấu tranh giành độc lập.
Mộ ông được cải táng về quê nhà tại xă Điện Quang, huyện
Điện Bàn và đă được trùng tu tôn tạo 2 lần vào năm 1982 và
năm 1998.
Mộ chí sĩ Trần Văn Dư
Trần Văn Dư hiệu là Hoán Nhược, sinh năm 1839, mất năm
1885.Tên tuổi nhà yêu nước này gắn liền với phong trào Nghĩa
Hội Quảng Nam. Ông thi đỗ và được sắc phong Đệ Tam Giáp Đồng
Tiến sĩ vào năm 1875. Năm 1884, ông được cử làm Sơn pḥng sứ
Quảng Nam. Tại đây, hưởng ứng chiếu Cần Vương, ông đă cùng
các ông Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Kiến, Tiểu La Nguyễn Thành
lập nên Nghĩa Hội, mở đầu cho công cuộc kháng Pháp ở Quảng
Nam. Ông bị tay sai Nam triều bắt và xử chém tại thành La
Qua vào ngày 13 tháng 12 năm 1885. Khu lăng mộ ông hiện ở
tại xă Tam An - huyện Phú Ninh, cạnh quốc lộ 1A và kề khu
tháp Chiên Đàn.
Mộ chí sĩ Nguyễn Duy Hiệu
Nguyễn Duy Hiệu sinh năm
1847, mất năm 1887. Quê ông ở làng Thanh Hà, huyện Diên
Phước, phủ Điện Bàn (nay là xă Cẩm Hà, thành
phố Hội An).
Năm
1879, ông đậu phó bảng và được cử làm quan dạy cho hoàng tử
Ưng Đăng (sau là vua Kiến Phúc) tại triều đ́nh Huế. Một thời
gian sau, ông từ quan về quê và cùng với Trần Văn Dư, Phan
Bá Phiến ... lập nên Nghĩa Hội Quảng Nam và trở thành vị
lănh tụ tiêu biểu sau khi Trần Văn Dư mất.
Năm 1887, ông bị kẻ thù hành quyết. Khu lăng mộ ông hiện đă
được xây dựng khá công phu với nhiều hoạ tiết trang trí đẹp,
toạ lạc tại xă Cẩm Hà - thành phố Hội An.
Mộ chí sĩ Phạm Phú Thứ
Phạm Phú Thứ (1820 - 1883), quê ở
xă Điện Trung - huyện Điện Bàn. Năm 1843, ông đỗ tiến sĩ và
làm tri phủ Lạng Giang, có thời gian nhậm chức “Khởi cư chú”
chuyên ghi chép lại lời nói và hành động của vua Tự Đức. Năm
1863 ông cùng với Phan Thanh Giản sang Pháp thương thuyết
chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam bộ bị Pháp chiếm năm 1862.
Khi về nước ông đă nhiều lần dâng sớ điều trần lên vua nhằm
hoài bảo canh tân đất nước nhưng những ư nguyện của ông lại
bị vua Tự Đức khước từ. Ông đă từng giữ nhiều chức vụ như
tổng đốc Hải Dương và Quảng Yên, kiêm tổng lư Thương chánh
và Đại Đồng (1874), Hiệp Biện Đại Học Sĩ (1878).
Mộ ông hiện nằm trong một khuôn viên thoáng đóng ngay tại
quê nhà.
Mộ chí sĩ Phan Thành Tài
Phan Thành Tài sinh năm Canh
Ngọ (1870), tại làng Bảo An - Phủ Điện Bàn nay thuộc xă Điện
Trung, huyện Điện Bàn. Ông là một trong những người theo
Tây học đầu tiên của tỉnh Quảng Nam, là sĩ phu đắc lực cho
phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu. Cùng với Thái Phiên
và Trần Cao Vân, ông là người tham gia tích cực tổ chức Việt
Nam Quang Phục Hội, từng chỉ huy cuộc bạo động chiếm giữ cửa
bể Đà Nẵng của lực lượng Việt Nam Quang Phục Hội từ Quảng
Nam đến Qung Ngăi. Khởi nghĩa không thành, ngày 9 tháng 6
năm 1916 ông bị thực dân Pháp bắt và hành quyết khi vừa tṛn
36 tuổi. Hiện nay mộ ông nằm tại thị trấn Vĩnh Điện, huyện
Điện Bàn.
Mộ chí sĩ Tiểu La
Tiểu La tên thật là Nguyễn Thành tự là Triết Phu, ông sinh
năm 1863, tại làng Thành Mỹ - phủ Thăng B́nh (nay là thôn
Quư Thạnh, xă B́nh Quư, huyện Thăng B́nh) trong một gia
đ́nh nho giáo. Từ nhỏ nổi tiếng là người thông minh, có tính
tự chủ, tháo vát và mang hoài băo muốn hiểu biết để t́m
đường cứu nước. Năm 1885 ông từ bỏ đèn sách tham gia phong
trào Nghĩa Hội và sớm trở thành vị tướng tài. Ông được
Nguyễn Duy Hiệu giao giữ chức Tán tướng quân vụ kim thương
biện tỉnh vụ, là một trong những người có công rất lớn cùng
với cụ Phan Bội Châu trong việc sáng lập Duy Tân Hội. Năm
1908 ông bị địch bắt và đày đi Côn Đảo, rồi qua đời vào năm
1911.
Mộ được trùng tu vào năm 1997 tại quê nhà của ông, trong một
khuôn viên xinh đẹp, chung quanh là những hàng cây xanh tươi
và những bồn hoa xinh xắn.
Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng
Là di tích lịch sử - văn hoá
cấp quốc gia thuộc xă Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, cách thành
phố Tam Kỳ khoảng 35 km về phía tây. Đây là ngôi nhà cũ do
thân sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng xây dựng từ năm 1869, theo lối
kiến trúc rất phổ biến dưới thời nhà Nguyễn. Ngôi nhà gồm 3
gian, mái ngói, khung sườn gỗ với những đường nét chạm trổ
tinh xảo.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng sinh năm 1876, quê làng Thạnh B́nh,
huyện
Tiên Phước, là một người thông minh học giỏi, một chí sĩ yêu
nước. Sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Cụ đă
được Hồ Chủ tịch mời ra tham gia với Chính phủ và có thời
gian giữ chức quyền Chủ tịch nước.
Hiện nay di tích đă được trùng tu, tôn tạo nhiều lần. Tại
đây có trưng bày một số di vật và tư liệu có liên quan về
thân thế sự nghiệp và cuộc đời hoạt động cách mạng của cụ.
Ngôi nhà cụ Phan Châu Trinh
Phan Châu Trinh sinh năm 1872 tại thôn Tây Lộc, tổng
Vinh Quư, huyện Hà Đông (thuộc xă Tam Lộc, huyện Phú Ninh
ngày nay) và mất năm 1926 tại Sài G̣n sau nhiều năm hoạt
động cách mạng. Ông là người khởi xướng phong trào Duy Tân,
là tấm gương sáng chói về ḷng yêu nước thương dân và tinh
thần anh dũng đấu tranh cho quyền lợi dân tộc.
Tưởng nhớ ông, ngay tại nền nhà cũ ở Tây Lộc - nơi ông sinh
sống trong những năm tháng tuổi thơ, chính quyền đă xây dựng
một ngôi nhà lưu niệm theo lối kiến trúc cổ trên mảnh đất
rộng khoảng 2000 m2 , được bao bọc bởi những lũy tre làng
quanh năm xanh tốt.
|
.: VICTORIA HOI AN BEACH RESORT & SPA - TO CHUC CUOC THI THA DIEU LAN VII :.
|